Kaṅkhā Revata Thera draft

Kaṅkhā Revata Thera. He belonged to a very wealthy family in Sāvatthī. One day, after his midday meal, he went with others to hear the Buddha preach and, accepting the word of the Buddha, he entered the Saṅgha. According to the Apadāna (ii.491), he heard the Buddha preach at Kapilavatthu.

He attained Arahant-ship by way of practising jhāna, and so proficient in jhāna did he become that the Buddha declared him chief of the monks who practised it (AN.i.24; Ud.v.9; AN­a.i.129f; Thag.3; Thag­a.33f). Before he became an Arahant he was greatly troubled in mind as to what was permissible for him to use and what was not (akappiyā muggā, na kappanti muggā paribhuñjituṁ, etc.). This characteristic of his became well-known, hence his name (Ud­a.314).

In the time of Padumuttara he was a Brahmin of Haṁsavatī, well versed in the Vedas. One day, while listening to the Buddha’s preaching, he heard him declare a monk in the assembly as chief among those who practised jhāna, and himself wished for the same honour under a future Buddha (Ap.ii.419f). He is often mentioned in company with other very eminent disciples – e.g., Anuruddha, Nandiya, Kimbila, Kuṇḍadhāna and Ānanda – at the preaching of the Naḷakapānasutta (MN.i.462). The Mahā Gosiṅgasutta (MN.i.212ff) records a discussion between Moggallāna, Mahā Kassapa, Anuruddha, Revata and Ānanda, and there we find Revata praising, as the highest type of monk, one who delights in meditation and has his habitation in the abodes of solitude.

Kaṅkhā Revata appears to have survived the Buddha.

In the Uttaramātupetavatthu (Pv-a.141ff), Uttara’s mother having been born as a Peta, and having wandered about for fifty-five years without water, came upon Revata enjoying the siesta on the banks of the Ganges and begged him for succor. Having learnt her story, Revata gave various gifts to the Saṅgha in her name, and so brought her happiness.

Kaṅkhā Revata Thera. Ông xuất thân từ một gia đình rất giàu có ở Sāvatthī. Một ngày nọ, sau bữa ăn trưa, ông cùng những người khác đi nghe Đức Phật thuyết pháp và, chấp nhận lời của Đức Phật, ông gia nhập Tăng đoàn. Theo Apadāna (ii.491), ông đã nghe Đức Phật thuyết pháp tại Kapilavatthu.

Ông đã đạt quả vị Arahant thông qua việc thực hành jhāna, và ông trở nên thành thạo trong jhāna đến mức Đức Phật tuyên bố ông là vị đệ nhất trong số những tỳ-kheo thực hành nó (AN.i.24; Ud.v.9; AN­a.i.129f; Thag.3; Thag­a.33f). Trước khi trở thành một Arahant, tâm ông vô cùng phiền muộn về việc điều gì được phép dùng và điều gì không (akappiyā muggā, na kappanti muggā paribhuñjituṁ, v.v.). Đặc điểm này của ông trở nên nổi tiếng, do đó ông có tên như vậy (Ud­a.314).

Vào thời của Đức Phật Padumuttara, ông là một Bà-la-môn ở Haṁsavatī, thông thạo kinh Veda. Một ngày nọ, trong khi nghe Đức Phật thuyết pháp, ông nghe ngài tuyên bố một tỳ-kheo trong hội chúng là đệ nhất trong số những người thực hành jhāna, và bản thân ông cũng mong muốn có được vinh dự tương tự dưới thời một vị Phật tương lai (Ap.ii.419f). Ông thường được nhắc đến cùng với những đệ tử rất xuất chúng khác - ví dụ, Anuruddha, Nandiya, Kimbila, Kuṇḍadhāna và Ānanda - tại buổi thuyết pháp Naḷakapānasutta (MN.i.462). Mahā Gosiṅgasutta (MN.i.212ff) ghi lại một cuộc thảo luận giữa Moggallāna, Mahā Kassapa, Anuruddha, Revata và Ānanda, và ở đó chúng ta thấy Revata ca ngợi, như là hình mẫu tỳ-kheo cao tột nhất, một người hoan hỷ trong thiền định và có trú xứ ở những nơi thanh vắng.

Kaṅkhā Revata dường như đã sống lâu hơn Đức Phật.

Trong Uttaramātupetavatthu (Pv-a.141ff), mẹ của Uttara đã tái sinh làm một ngạ quỷ, và sau khi lang thang trong năm mươi lăm năm mà không có nước, đã tình cờ gặp Revata đang nghỉ trưa trên bờ sông Ganges và cầu xin ông cứu giúp. Sau khi biết câu chuyện của bà, Revata đã dâng nhiều món quà khác nhau cho Tăng đoàn nhân danh bà, và do đó mang lại hạnh phúc cho bà.