Yama draft

1. Yama draft

Yama. The god of death (see, e.g., Dhp­a.iii.337; Yamassa santikaṁ = Maraṇasantikaṁ). When beings die they are led before him to be judged according to their deeds. Birth, old age, illness, punishment for crime and death, are regarded as his messengers, sent among men as a warning to abstain from ill and do good. Yama questions beings brought before him as to whether they have seen these messengers and profited by them. If the answer is in the negative, the nirayapālas take them away to the different hells (MN.iii.179ff).

In the Mahā Samayasutta (DN.ii.259) mention is made of two Yamas (duve Yamā), which the Commentary explains (DN­a.ii.690) by “dve Yamakadevatā” (the twins, whom Rhys Davids calls the Castor and Pollux of Indian Mythology, in Dial.ii.290, n.1). Elsewhere (AN­a.i.374; MN­a.ii.953) Buddhaghosa speaks of four Yamas (na cesa eko va hoti, catusu pana dvāresu cattāro janā honti) at the four gates (of the Nirayas?). He says that Yama is a Vemānikapetarājā, who sometimes enjoys all the pleasures of heaven, in a celestial mansion, surrounded by kapparukkhas, and at other times experiences the fruits of his kamma. He is a good king.

In the Jātakas the Nirayas are particularly mentioned as Yama’s abode (Yamakkhaya, Yamanivesana, Yamasādana, etc.), e.g., Ja.ii.318; iv.273; v.268, 274, 304. The Vetaraṇī is mentioned as forming the boundary of Yama’s kingdom (Ja.i.21; Ja.ii.317; iii.472; but see ii.318). At Ja.iv.405, Yama’s abode is called Ussadaniraya. Dhp­a.i.334 explains Yamaloka by Catubbidhaṁ apāyalokaṁ. Cp. Pv-a.33 (Yamaloko ti petaloko); Pv-a.107 (Yamavisayaṁ = Petalokaṁ). But, more generally, all Saṁsāra is considered as subject to Yama’s rule, and escape from Saṁsāra means escape from Yama’s influence, Yama being the god of Death. It is evidently in this sense that Yama is called Vesāyi (q.v., Ja.ii.317, 318).

Yama is sometimes mentioned with Indra, Varuṇa, Soma, Pajāpatī, etc., as a god to whom sacrifices are offered (e.g., Ja.vi.201; DN.i.244; at Mil.37 the list includes Kuvera, Suyāma and Santusita; cp. Mahā Vastu Mvu.i.265; Mvu.iii.68, 77; 77, 307). There is a tradition (AN.i.142) that once Yama longed to be born as a human being and to sit at the feet of a Tathāgata. Yama’s Nayanāyudha is mentioned (Snp­a.i.225) among the most destructive of weapons.

Yama. Vị thần chết (ví dụ, xem Dhp­a.iii.337; Yamassa santikaṁ = Maraṇasantikaṁ). Khi chúng sinh chết đi, họ bị dẫn đến trước ông để bị phán xét theo những hành động của mình. Sinh ra, già yếu, bệnh tật, hình phạt cho tội lỗi và cái chết, được coi là những sứ giả của ông, được cử đến giữa loài người như một lời cảnh báo để tránh xa cái ác và làm điều thiện. Yama tra hỏi những chúng sinh bị đưa đến trước ông xem họ đã nhìn thấy những sứ giả này chưa và có hưởng lợi từ chúng không. Nếu câu trả lời là không, những ngục tốt (nirayapālas) sẽ đưa họ đi đến những địa ngục khác nhau (MN.iii.179ff).

Trong kinh Mahā Samayasutta (DN.ii.259) có đề cập đến hai Yama (duve Yamā), mà Chú giải (DN­a.ii.690) giải thích là “dve Yamakadevatā” (cặp sinh đôi, những vị mà Rhys Davids gọi là Castor và Pollux của Thần thoại Ấn Độ, trong Dial.ii.290, n.1). Ở một nơi khác (AN­a.i.374; MN­a.ii.953) Buddhaghosa nói về bốn Yama (na cesa eko va hoti, catusu pana dvāresu cattāro janā honti) ở bốn cổng (của các Nirayas?). Ngài nói rằng Yama là một vị Vemānikapetarājā, người đôi khi tận hưởng mọi thú vui của cõi trời, trong một tòa thiên cung, bao quanh bởi những cây như ý (kapparukkhas), và vào những lúc khác lại phải gánh chịu những quả báo từ nghiệp (kamma) của mình. Ông là một vị vua tốt.

Trong các câu chuyện Bổn sinh, các địa ngục (Nirayas) được đặc biệt đề cập đến như là nơi ở của Yama (Yamakkhaya, Yamanivesana, Yamasādana, v.v...), ví dụ, Ja.ii.318; iv.273; v.268, 274, 304. Sông Vetaraṇī được đề cập là ranh giới vương quốc của Yama (Ja.i.21; Ja.ii.317; iii.472; nhưng xem ii.318). Tại Ja.iv.405, nơi ở của Yama được gọi là Ussadaniraya. Dhp­a.i.334 giải thích Yamaloka bằng Catubbidhaṁ apāyalokaṁ. Cp. Pv-a.33 (Yamaloko ti petaloko); Pv-a.107 (Yamavisayaṁ = Petalokaṁ). Nhưng, nói chung hơn, toàn thể luân hồi (Saṁsāra) được coi là phải chịu sự cai trị của Yama, và việc thoát khỏi luân hồi (Saṁsāra) có nghĩa là thoát khỏi ảnh hưởng của Yama, do Yama là vị thần của Cái chết. Rõ ràng theo ý nghĩa này mà Yama được gọi là Vesāyi (q.v., Ja.ii.317, 318).

Yama đôi khi được đề cập cùng với Indra, Varuṇa, Soma, Pajāpatī, v.v..., như một vị thần được dâng đồ cúng tế (ví dụ, Ja.vi.201; DN.i.244; tại Mil.37 danh sách này bao gồm Kuvera, SuyāmaSantusita; cp. Mahā Vastu Mvu.i.265; Mvu.iii.68, 77; 77, 307). Có một truyền thuyết (AN.i.142) nói rằng đã có lúc Yama mong muốn được sinh ra làm con người và được ngồi dưới chân một vị Tathāgata. Nayanāyudha của Yama được đề cập (Snp­a.i.225) như là một trong những vũ khí hủy diệt nhất.

01. Yāmā 01 draft

Yāmā 01. A class of Devas, mentioned in lists of Devas between those of Tāvatiṁsa and those of Tusita (e.g., Vin.i.12, AN.i.228; iii.287; MN.ii.194; iii.100, etc.). Two hundred years of human life are but one day to the Yāma Devā, and two thousand years, composed of such days, form their life period (AN.i.213; iv.253). Sirimā, sister of Jīvaka, was born after death in the Yāma world and became the wife of Suyāma, king of Yāmabhavana. From there she visited the Buddha with five hundred others. Snp­a i.244f.; see also Vv-a.246 for an upāsaka born in the Yāma-world. In the Hatthipālajātaka (Ja.iv.475) mention is made of four Yāma-Devas who were reborn as men.

The meaning of Yāmā is explained in the Commentaries (e.g., Vibh­a.519; Paṭis-a.441) as “those that have attained divine bliss” (dibbaṁ sukhaṁ yātā payātā sampattā ti Yāmā). Other explanations are “misery freed” or “governing gods”. Comp.138, n.2.

Yāmā 01. Một nhóm chư thiên (Devas), được đề cập trong các danh sách về chư thiên (Devas) nằm giữa những chư thiên cõi Tāvatiṁsa và cõi Tusita (ví dụ, Vin.i.12, AN.i.228; iii.287; MN.ii.194; iii.100, v.v...). Hai trăm năm tuổi thọ của con người chỉ bằng một ngày đối với chư thiên Yāma (Yāma Devā), và hai ngàn năm, bao gồm những ngày như vậy, tạo thành tuổi thọ của họ (AN.i.213; iv.253). Sirimā, em gái của Jīvaka, sau khi chết đã được tái sinh vào cõi trời Yāma và trở thành vợ của Suyāma, vua của cõi Dạ-ma (Yāmabhavana). Từ đó cô đã đến thăm Đức Phật cùng với năm trăm vị khác. Snp­a i.244f.; xem thêm Vv-a.246 kể về một nam cư sĩ (upāsaka) sinh vào cõi trời Yāma. Trong Hatthipālajātaka (Ja.iv.475) có đề cập đến bốn vị chư thiên Yāma (Yāma-Devas) đã tái sinh làm người.

Ý nghĩa của Yāmā được giải thích trong các Chú giải (ví dụ, Vibh­a.519; Paṭis-a.441) là “những người đã đạt đến hạnh phúc thiêng liêng” (dibbaṁ sukhaṁ yātā payātā sampattā ti Yāmā). Những lời giải thích khác là “được giải thoát khỏi khổ đau” hoặc “những vị thần cai quản”. Comp.138, n.2.

02. Yāmā 02 draft

Yāmā 02. In some contexts, Yāmā seems to have been derived from Yama, king of the underworld – e.g in such expressions as “Yāmato yāva Akaniṭṭhaṁ” (from the underworld to the highest heaven). Khp­a.166.

Yāmā 02. Trong một số ngữ cảnh, Yāmā dường như được bắt nguồn từ Yama, vua của thế giới ngầm – ví dụ trong những cách diễn đạt như “Yāmato yāva Akaniṭṭhaṁ” (từ thế giới ngầm đến cõi trời cao nhất). Khp­a.166.