Hatthipālajātaka draft

Hatthipālajātaka (Ja 509). Esukārī, king of Benares, had no sons. His chaplain, hearing that the deity of a certain banyan tree had the power of giving sons, went to the tree and threatened to cut it down unless Esukārī had a son. The tree deity consulted Sakka, who persuaded four Devas to be born as the sons, not of Esukārī, but of his chaplain. On the day when the chaplain came to cut down the tree, the deity told him of Sakka’s decision, and also warned him that the sons would not live the household life. In due course the sons were born and were named Hatthipāla, Gopāla, Assapāla and Ajapāla. Various devices were adopted to prevent them from turning to the ascetic life. But when Hatthipāla grew up he insisted on leaving home and becoming an ascetic, heedless of the entreaties both of his father and of Esukārī. His brothers, when their time came, acted in the same way. Later, their parents joined them. The king sent for all their wealth, but the queen, being wise, made him realize by means of a simile the folly of such an act. Together they left the world and joined Hatthipāla and his family. The citizens followed their example till the whole city was empty.

Hatthipāla preached to them and they all became ascetics. His company covered an area of thirty leagues, and with it he went to the Himālaya, where Vissakamma, acting under Sakka’s orders, built for them a hermitage extending over thirty-six leagues, on the bank’s of the Ganges. Soon after, other kings who, with their followers, had gone, one after another, to take Benares, realizing their folly, joined Hatthipāla and became ascetics.

The story was related in reference to the Buddha’s Great Renunciation. Suddhodana was Esukārī, Mahā Māyā his queen, Kassapa the chaplain, Bhaddā Kapilānī his wife, Anuruddha Ajapāla, Moggallāna was Gopāla, Sāriputta was Assapāla and the Buddha himself was Hatthipāla.

The large concourse that followed Hatthipāla is called Hatthipālasamāgama, and in it were several who later attained Arahant-ship in Ceylon – Phussadeva of Kaṭakandharakāra, Mahā Saṅgharakkhita of Uparimaṇḍalakamalaya, Malaya Mahā Deva, Mahā Deva of Bhaggagiri, Mahā Sīva of Vimantapabbhāra, and Mahā Nāga of Kāḷavallimaṇḍapa (Ja.iv.473-91; referred to at Ja.i.45). A Burmese monk of Ava, Ratthasāra by name, born in 1468, composed a metrical version of the Hatthipālajātaka. Bode, 44.

Hatthipālajātaka (Ja 509). Esukārī, vua xứ Benares, không có con trai. Vị tế sư của ông, nghe rằng vị thần của một cây đa nọ có quyền năng ban con trai, đã đến bên cây và đe dọa sẽ chặt nó xuống trừ khi Esukārī có được một người con trai. Vị thọ thần bèn hỏi ý kiến Sakka, và Sakka thuyết phục bốn vị chư thiên tái sinh làm con, không phải của Esukārī, mà là của vị tế sư. Vào ngày vị tế sư đến để chặt cây, vị thọ thần báo cho ông biết quyết định của Sakka, đồng thời cảnh báo ông rằng những người con trai này sẽ không sống đời sống gia đình. Đúng thời hạn, các người con trai chào đời và được đặt tên là Hatthipāla, Gopāla, AssapālaAjapāla. Nhiều cách thức khác nhau đã được áp dụng để ngăn họ hướng đến đời sống khổ hạnh. Nhưng khi Hatthipāla trưởng thành, chàng nhất quyết rời nhà để trở thành một vị khổ hạnh, bất chấp lời van nài của cả cha mình lẫn Esukārī. Các em trai chàng, khi đến lượt mình, cũng hành động tương tự. Về sau, cha mẹ họ cũng gia nhập cùng họ. Nhà vua cho người đến thu hết của cải của họ, nhưng hoàng hậu, vốn khôn ngoan, đã khiến ông nhận ra sự dại dột của hành động đó bằng một ví dụ. Cùng nhau, họ từ bỏ đời sống thế tục và gia nhập cùng Hatthipāla và gia đình chàng. Dân chúng noi theo gương họ cho đến khi cả thành phố trống rỗng.

Hatthipāla thuyết pháp cho họ và tất cả đều trở thành khổ hạnh. Đoàn tùy tùng của chàng trải rộng ba mươi do-tuần, và cùng với đoàn ấy, chàng đến Himālaya, nơi Vissakamma, theo lệnh của Sakka, đã xây cho họ một am thất trải dài ba mươi sáu do-tuần, trên bờ sông Ganges. Không lâu sau, các vị vua khác, cùng với đoàn tùy tùng của mình, lần lượt kéo đến chiếm lấy Benares, nhận ra sự dại dột của mình, đã gia nhập cùng Hatthipāla và trở thành khổ hạnh.

Câu chuyện này được kể liên quan đến cuộc Đại Xuất Ly của Đức Phật. Suddhodana là Esukārī, Mahā Māyā là hoàng hậu của ông, Kassapa là vị tế sư, Bhaddā Kapilānī là vợ ông, Anuruddha là Ajapāla, Moggallāna là Gopāla, Sāriputta là Assapāla, và chính Đức Phật là Hatthipāla.

Đoàn người đông đảo đi theo Hatthipāla được gọi là Hatthipālasamāgama, và trong đó có một số vị về sau chứng đắc quả vị Arahant tại Tích Lan – Phussadeva của Kaṭakandharakāra, Mahā Saṅgharakkhita của Uparimaṇḍalakamalaya, Malaya Mahā Deva, Mahā Deva của Bhaggagiri, Mahā Sīva của Vimantapabbhāra, và Mahā Nāga của Kāḷavallimaṇḍapa (Ja.iv.473-91; được nhắc đến tại Ja.i.45). Một vị tỳ-kheo người Miến Điện ở Ava, tên là Ratthasāra, sinh năm 1468, đã soạn một bản diễn ca của Hatthipālajātaka. Bode, 44.