Mahā Vālukagaṅgā draft
Mahā Vālukagaṅgā, Mahā Gaṅgā, Mahā Vālukanadī. The chief river of Ceylon, the modern Mahā Veligaṅga. Viewed from the city of Anurādhapura, the right bank was called pāragaṅgā and the left oragaṅgā. The river was of great strategic importance, and is mentioned in various accounts of campaigns between opposing armies. It was always regarded as the boundary between North Ceylon, with Anurādhapura (and later, Pulatthipura) as the centre, and the south-east province of Rohaṇa.
Various fords on this river are mentioned in the books, the chief among these being Kacchakatittha, Ganthambatittha, Mahā Rukkhatittha, Mālāgāmatittha, Yakkhasūkaratittha, Sarogāmatittha, Sahassatittha and Suvaṇṇatthambhatittha. There were evidently other fords at the bends of the river with no particular names (e.g., Cv.lxxii.285).
The kings of Ceylon constructed various canals branching off from the river to help in their irrigation schemes. One such was the Pabbatanta Canal, built by Mahā Sena (Mhv.xxxvii.50); while the Aciravatī, the Gomatī, and the Malāpaharaṇī were constructed by Parakkamabāhu I. (Cv.lxxix.51f). Dhātusena irrigated the surrounding fields by means of damming up the river (Cv.xxxviii.12), as did Sena II. by the construction of the Maṇimekhala dam (Cv.li.72). In the time of Parakkamabāhu II. and, later, of Vijayabāhu IV., great ordination ceremonies were held on the river at Sahassatittha (Cv.lxxxvii.72; lxxxix.70f), and again at Ganthambatittha in the time of Vimaladhammasūriya I. Cv.xciv.17; also Vimaladhammasūriya II. (Cv.xcvii.12).
The river rises in Samantakūṭa (Cv.c.82). The Mahā Nāgavana of the Yakkhas, where, later, was erected the Mahiyaṅgathūpa, was on the right bank of the river. Cv.lxxxix.70; Mhv.Trs., p.3.
Mahā Vālukagaṅgā, Mahā Gaṅgā, Mahā Vālukanadī. Con sông chính của Tích Lan, ngày nay là Mahā Veligaṅga. Nhìn từ thành phố Anurādhapura, bờ bên phải được gọi là pāragaṅgā và bên trái là oragaṅgā. Dòng sông có một tầm quan trọng chiến lược to lớn, và được nhắc đến trong nhiều lời tường thuật về các chiến dịch giữa các quân đội đối nghịch. Nó luôn luôn được xem là ranh giới giữa Bắc Tích Lan, với Anurādhapura (và về sau là Pulatthipura) làm trung tâm, và tỉnh Rohaṇa ở phía đông nam.
Nhiều bến cạn khác nhau trên dòng sông này được nhắc đến trong các cuốn sách, nổi bật nhất trong số đó là Kacchakatittha, Ganthambatittha, Mahā Rukkhatittha, Mālāgāmatittha, Yakkhasūkaratittha, Sarogāmatittha, Sahassatittha và Suvaṇṇatthambhatittha. Rõ ràng là có nhiều bến cạn khác ở các khúc quanh của dòng sông với không có tên gọi cụ thể nào (ví dụ, Cv.lxxii.285).
Các vị vua của Tích Lan đã xây dựng nhiều kênh đào khác nhau rẽ nhánh từ dòng sông để hỗ trợ cho các dự án thủy lợi của họ. Một kênh đào như vậy là Kênh đào Pabbatanta, được xây dựng bởi Mahā Sena (Mhv.xxxvii.50); trong khi Aciravatī, Gomatī, và Malāpaharaṇī đã được xây dựng bởi Parakkamabāhu I. (Cv.lxxix.51f). Dhātusena đã tưới tiêu cho các cánh đồng xung quanh bằng cách đắp đập trên dòng sông (Cv.xxxviii.12), cũng giống như Sena II. đã làm nhờ vào việc xây dựng con đập Maṇimekhala (Cv.li.72). Trong thời của Parakkamabāhu II., và, sau đó, của Vijayabāhu IV., những buổi lễ truyền giới vĩ đại đã được tổ chức trên dòng sông tại Sahassatittha (Cv.lxxxvii.72; lxxxix.70f), và một lần nữa tại Ganthambatittha vào thời của Vimaladhammasūriya I. Cv.xciv.17; và cả Vimaladhammasūriya II. (Cv.xcvii.12).
Dòng sông bắt nguồn từ Samantakūṭa (Cv.c.82). Mahā Nāgavana của loài Yakkha, nơi mà, sau đó, đã dựng lên Mahiyaṅgathūpa, nằm ở bên bờ phải của dòng sông. Cv.lxxxix.70; Mhv.Trs., p.3.