Lāḷudāyī Thera draft

Lāḷudāyī Thera. An Elder who possessed the knack of saying “the wrong thing.” He would go to a place where people were enjoying a holiday and recite stanzas suitable to a funeral and vice versa (Dhp­a.iii.123ff). When Gotama Buddha heard of this he related the Somadattajātaka (Ja 211), showing that in past births, too, Lāludayī had possessed the same propensity. He is identified with the foolish father (Agnidatta) of the story (Ja.ii.167; Dhp­a.iii.125). We also read of his jealousy of the praises bestowed on Sāriputta and Moggallāna for their knowledge and exposition of the Dhamma, and he claimed that he possessed knowledge equal to theirs. But one day when asked to preach, he sat on a seat holding a painted fan, but found nothing to say. He thereupon agreed to preach in the evening; but the same thing happened, and he barely escaped with his life, so furious was his audience. The Buddha, on hearing of this, related the Sūkarajātaka (Ja 153) (in which Lāḷudāyī was the pig), showing that in the past, too, he had covered himself with disgrace because of his boastfulness. Ja.ii.344ff.; but according to the introductory story of the Jātaka itself (in Ja.ii.9ff.), Lāḷudāyī’s name is not mentioned, and the incident described differs somewhat.

On another occasion, he had a dispute with Dabba Mallaputta regarding the allotment of the rice tickets, and the monks, in order to teach him a lesson, handed him the tickets to distribute. But he created such confusion that there was a great uproar, and Ānanda was sent by the Buddha to find out what was happening. When Ānanda returned with this story, the Buddha related the Taṇḍulanālijātaka (Ja 5) to show that in the past Lāḷudāyī had been a foolish appraiser (Ja.i.123ff). The Naṅgalīsajātaka (Ja 123) gives another example of his folly and ineptitude (Ja.i.446ff); so does also the Padañjalijātaka (Ja 247, Ja.ii.263f), where he is identified with Padañjali, an idle, lazy loafer. In the Mahā Ummaggajātaka (Ja 546, Ja.vi.478) he is identified with the somewhat foolish king, Vedeha.

Lāḷudāyī once had a discussion with Pasūra, who, at first, thought him to be clever and wise, and accepted him as teacher, being ordained by him. But, later, Pāsura easily defeated him in discussion (Snp­a.ii.540). Others, too, visiting Jetavana, and seeing him in the Preacher’s seat, mistook him for an eminent Elder, but soon discovered their mistake (e.g., Dhp­a.ii.31).

On one occasion (AN.iii.192f.; AN­a.ii.628) Lāḷudāyī even dared to contradict Sāriputta regarding birth among the manomayadevā. Three times Sāriputta repeated his statement and three times Lāḷudāyī contradicted him, and, there being no monk in the assembly who supported Sāriputta, he took Lāḷudāyī to the Buddha, where he three times repeated the same statement, being three times contradicted. Then the Buddha called Lāḷudāyī “a witless fool” and silenced him. Ānanda was witness to the dispute, but took no part in it, thereby winning the Buddha’s censure.

Elsewhere (AN.iv.414f.; AN­a.ii.810), however, we find Lāḷudāyī listening in all humility to a discourse by Sāriputta on Nibbāna, as the happiness which is not sensed (avedayitasukha). Though Udāyī’s knowledge of the Dhamma was not profound, he did not hesitate to take part in a discussion, even with the Buddha himself, when occasion arose. We find him twice censured by the Buddha for this exhibition of his ignorance, once in the Mahā Kammavibhaṅgasutta (MN.iii.208) and once again in a discussion on anussati (AN.iii.322f). In both instances Ānanda is present, and, in the discussion on anussati, he earns the Buddha’s praise for his knowledge compared with Udāyī’s ignorance. This annoyed Udāyī, for we find him confronting Ānanda with the fact that though he had been in the constant society of the Buddha he had not profited by it, a remark which earned the censure of the Buddha and his assurance that Ānanda would certainly reach perfection in that very life (AN.i.228; AN­a.i.441).

Buddhaghosa calls Lāḷudāyī Kovariyaputta (Thag­a.ii.7; some of the MSS. read nāṭakācariyaputta). It is not clear whether this means that his father was called Kovariya.

The Vinaya (Vin.iii.110) mentions a monk called Udāyī who was a colleague of Seyyasaka. He persuaded Seyyasaka to commit the first Saṅghādisesa offence, saying that he himself acted likewise. For this the Mānatta penalty was imposed on him.

According to the Commentaries (Vin-a.iii.517; Dhp­a.iii.5), this Udāyī is to be identified with Lāḷudāyī, and if this be correct, it was perhaps the same monk who was guilty of several Vinaya offences attributed to Udāyī – see Udāyī (2) – though the Vinaya Commentary does not elsewhere definitely so identify him (e.g., Vin-a.iii.541, 549, 552, where he is simply called Udāyī), except once (Vin-a.iv.804), where he is mentioned as having made an embroidered robe for a nun, which he persuaded her to wear in the assembly of the nuns! Was this because the Commentator regarded the two Udāyīs as distinct persons (e.g., MN­a.i.348)?

Lāḷudāyī is given as an example of a person who did no good either to himself or to others (neva attahitāya paṭipanno no parahitāya). Buddhaghosa elsewhere (Vin-a.iii.517) describes him as “bhantamigasappaṭibhāgo niddārāmatādiṁ anuyuttānaṁ aññataro lolabhikkhu (a greedy monk, comparable to a rutting deer, who was devoted to such things as delighting in sleep, etc.).”

Lāḷudāyī Thera. Một vị Trưởng lão nổi tiếng với tài "nói không đúng lúc." Ông sẽ đến những nơi mọi người đang vui hội rồi đọc những bài kệ thích hợp cho đám tang và ngược lại (Dhp­a.iii.123ff). Khi Gotama Buddha nghe chuyện này, ngài đã kể Somadattajātaka (Ja 211), cho thấy rằng trong các kiếp trước, Lāludāyī cũng đã có khuynh hướng tương tự. Ông được đồng nhất với người cha ngu ngốc (Agnidatta) của câu chuyện (Ja.ii.167; Dhp­a.iii.125). Ta cũng đọc được sự ghen tức của ông đối với những lời ca ngợi dành cho SāriputtaMoggallāna vì kiến thức và khả năng giảng Pháp của họ, và ông tuyên bố mình có kiến thức ngang bằng với họ. Nhưng một hôm khi được yêu cầu thuyết pháp, ông ngồi trên pháp tòa cầm quạt vẽ, nhưng không tìm được gì để nói. Ông liền đồng ý sẽ thuyết vào buổi tối; nhưng điều tương tự lại xảy ra, và ông suýt mất mạng vì thính chúng quá tức giận. Đức Phật khi nghe chuyện này đã kể Sūkarajātaka (Ja 153) (trong đó Lāḷudāyī là con heo), cho thấy rằng trong quá khứ, ông cũng đã tự làm nhục mình vì tính tự cao. Ja.ii.344ff.; nhưng theo câu chuyện giới thiệu của bản thân Jātaka (trong Ja.ii.9ff.), tên của Lāḷudāyī không được đề cập, và sự kiện được mô tả có đôi chút khác biệt.

Vào dịp khác, ông tranh luận với Dabba Mallaputta về việc phân phát thẻ cơm, và các tỳ-kheo, để dạy cho ông một bài học, đã giao thẻ cho ông phân phát. Nhưng ông tạo ra sự hỗn loạn đến mức ồn ào náo nhiệt, và Ānanda được Đức Phật phái đến để tìm hiểu chuyện gì đang xảy ra. Khi Ānanda trở về với câu chuyện này, Đức Phật đã kể Taṇḍulanālijātaka (Ja 5) để chỉ ra rằng trong quá khứ Lāḷudāyī đã là một kẻ thẩm định ngu ngốc (Ja.i.123ff). Naṅgalīsajātaka (Ja 123) nêu thêm một ví dụ về sự ngu ngốc và vụng về của ông (Ja.i.446ff); Padañjalijātaka (Ja 247, Ja.ii.263f) cũng vậy, trong đó ông được đồng nhất với Padañjali, một kẻ lười biếng, vô công rồi nghề. Trong Mahā Ummaggajātaka (Ja 546, Ja.vi.478) ông được đồng nhất với vị vua phần nào ngu ngốc, Vedeha.

Lāḷudāyī một lần có cuộc thảo luận với Pasūra, người lúc đầu nghĩ ông thông minh và sáng suốt nên nhận ông làm thầy, được ông thọ giới. Nhưng sau đó, Pāsura dễ dàng đánh bại ông trong cuộc tranh luận (Snp­a.ii.540). Những người khác đến thăm Jetavana, thấy ông ngồi trên pháp tòa, cũng nhầm ông là một vị Trưởng lão xuất chúng, nhưng sớm phát hiện ra sự nhầm lẫn của mình (vd., Dhp­a.ii.31).

Vào một dịp (AN.iii.192f.; AN­a.ii.628) Lāḷudāyī thậm chí dám bác bỏ Sāriputta về sự tái sinh trong số các manomayadevā. Sāriputta nhắc lại lời phát biểu của mình ba lần và Lāḷudāyī bác bỏ ba lần, và vì không có tỳ-kheo nào trong hội chúng ủng hộ Sāriputta, ông đã đưa Lāḷudāyī đến gặp Đức Phật, ở đó ông nhắc lại cùng một lời phát biểu ba lần, bị bác bỏ ba lần. Rồi Đức Phật gọi Lāḷudāyī là "kẻ ngu không có trí" và buộc ông im lặng. Ānanda là nhân chứng của cuộc tranh luận, nhưng không tham gia, do đó bị Đức Phật quở trách.

Ở chỗ khác (AN.iv.414f.; AN­a.ii.810), tuy nhiên, ta thấy Lāḷudāyī lắng nghe với tất cả sự khiêm nhường một bài pháp của Sāriputta về Nibbāna, là sự an lạc không được cảm thọ (avedayitasukha). Dù kiến thức Pháp của Udāyī không sâu sắc, ông không ngần ngại tham gia thảo luận, thậm chí với chính Đức Phật, khi có dịp. Ta thấy ông bị Đức Phật quở trách hai lần vì biểu hiện sự vô minh này, một lần trong Mahā Kammavibhaṅgasutta (MN.iii.208) và một lần nữa trong cuộc thảo luận về anussati (AN.iii.322f). Trong cả hai trường hợp Ānanda đều có mặt, và trong cuộc thảo luận về anussati, ông được Đức Phật khen ngợi vì kiến thức của mình so với sự vô minh của Udāyī. Điều này làm Udāyī khó chịu, vì ta thấy ông đối mặt với Ānanda với sự kiện là dù ông đã thường xuyên ở bên Đức Phật, ông vẫn không thụ hưởng được điều đó, một nhận xét đã bị Đức Phật quở trách và sự xác nhận của ngài rằng Ānanda chắc chắn sẽ đạt được giải thoát trong chính kiếp này (AN.i.228; AN­a.i.441).

Buddhaghosa gọi Lāḷudāyī là Kovariyaputta (Thag­a.ii.7; một số bản chép tay đọc là nāṭakācariyaputta). Không rõ điều này có nghĩa là cha ông được gọi là Kovariya.

Vinaya (Vin.iii.110) đề cập đến một tỳ-kheo tên Udāyī là đồng nghiệp của Seyyasaka. Ông đã thuyết phục Seyyasaka phạm tội Saṅghādisesa đầu tiên, nói rằng chính ông cũng làm vậy. Vì điều này, hình phạt Mānatta được áp dụng cho ông.

Theo các Chú giải (Vin-a.iii.517; Dhp­a.iii.5), vị Udāyī này được đồng nhất với Lāḷudāyī, và nếu đúng như vậy, có lẽ cùng một tỳ-kheo đó đã phạm nhiều tội Vinaya được quy cho Udāyī — xem Udāyī (2) — mặc dù Vinaya Commentary không ở đâu khác xác định rõ điều này (vd., Vin-a.iii.541, 549, 552, trong đó ông chỉ được gọi là Udāyī), ngoại trừ một lần (Vin-a.iv.804), khi ông được đề cập là đã may một chiếc y thêu cho một ni cô và thuyết phục bà mặc nó trong hội chúng của các ni! Có phải điều này là vì nhà Chú giải coi hai vị Udāyī là những người khác nhau (vd., MN­a.i.348)?

Lāḷudāyī được nêu làm ví dụ về một người không làm lợi ích gì cho mình cũng như cho người khác (neva attahitāya paṭipanno no parahitāya). Buddhaghosa ở chỗ khác (Vin-a.iii.517) mô tả ông là "bhantamigasappaṭibhāgo niddārāmatādiṁ anuyuttānaṁ aññataro lolabhikkhu (một tỳ-kheo tham lam, có thể so sánh với một con nai đang hứng tình, chuyên đắm mình trong những thứ như thích ngủ, v.v.)."