Mandhātā draft
Mandhātā. A primeval king, descended from Mahā Sammata, Roja, Vararoja, Kalyāṇa, Varakaḷyāna and Uposatha, the last named being his father. He was thus an ancestor of the Sākiyans. Ja.ii.311; iii.454; Mvu.ii.2; Dpv.iii.5; but see Snpa.i.352, where the genealogy is slightly different.
He had the seven Jewels of a Cakkavatti and his four Supernatural Powers. When he clenched his left hand and touched it with his right, a shower of the seven kinds of jewels fell knee-deep from the sky. For eighty-four thousand years he was a prince, for eighty-four thousand a viceroy, and for eighty-four thousand more a king. His life-span was an asaṅkheyya. But he grew discontented, and, at the suggestion of his ministers, visited the Deva world. First he went to the Cātummahārājika world, where he ruled; but still unsatisfied, he went to Tāvatiṁsa. There Sakka welcomed him and gave him half his kingdom. Mandhātā ruled there during the lifetime of thirty-six Sakkas, each Sakka’s life lasting for thirty-six million years and sixty times one hundred thousand. As time went on, Mandhātā’s craving increased; he wished to kill Sakka and gain the whole kingdom. Because of his greed his power waned, and he fell from heaven into his park. The gardener announced his arrival to the royal family, and they provided a resting place for him and there he lay dying. When asked for a message for his people, he wished them to know how even he, in spite of his great pomp and power, had to die (Ja.ii.311ff.; DNa.ii.481f.; MNa.i.182f.; cp. Divy.210ff).
Mandhātā is identified with the Bodhisatta (Ja.ii.314). His son was Varamandhātā, whose son was Cara and grandson Upacara (or Apacara, Ja.iii.454; Dpv.iii.6). Mandhātā ruled at Rājagaha (Snpa.ii.413; DNa.i.132), and is named as one of the four persons who attained, while yet in their earthly bodies, to the glory of the gods. Mil. 115, 291; MNa.ii.737f.; the others being Guttila, Sādhīna and Nimi.
He is considered as chief of those given up to the pleasures of the senses and as an example of one whose desires could never be satisfied. AN.ii.17; ANa.ii.474; e.g., Vibha.506. Thīg.486.
When Mandhātā went to the Deva world he was accompanied by inhabitants of all the four continents. After his return to earth, however, the Cakkaratana, stuck fast in the ground, and the others could not return to their homes. They thereupon begged for the intervention of the minister (Parināyaka), who was carrying on the government with Mandhātā’s shoes on the throne. He gave them lands in Jambudīpa. There those who came from Pubbavideha called their land Videharaṭṭha; those from Aparagoyāna called it Aparantajanapada, and those from Uttarakuru dwelt in what afterwards came to be known as Kururaṭṭha. DNa.ii.482; MNa.i.183f.
Mandhātā. Một vị vua thời thái cổ, dòng dõi từ Mahā Sammata, Roja, Vararoja, Kalyāṇa, Varakaḷyāna và Uposatha, người sau cùng là cha ông. Như vậy ông là tổ tiên của người Sākyan. Ja.ii.311; iii.454; Mvu.ii.2; Dpv.iii.5; nhưng xem Snpa.i.352, nơi gia phả có đôi chỗ khác biệt.
Ông có bảy Báu Vật của một Cakkavatti và bốn Thần Thông. Khi ông nắm chặt tay trái và đụng vào bằng tay phải, từ trên trời đổ xuống một trận mưa bảy loại châu báu ngập đến đầu gối. Tám mươi bốn nghìn năm ông là hoàng tử, tám mươi bốn nghìn năm là phó vương, và tám mươi bốn nghìn năm nữa là vua. Tuổi thọ của ông là một asaṅkheyya. Nhưng ông sinh chán nản, và theo lời khuyên của các quan đại thần, đến thăm cõi chư thiên. Đầu tiên ông lên cõi Cātummahārājika, ở đó ông trị vì; nhưng vẫn chưa thỏa mãn, ông đến Tāvatiṁsa. Tại đó Sakka đón tiếp ông và nhường cho ông nửa vương quốc. Mandhātā trị vì ở đó suốt thời gian của ba mươi sáu vị Sakka, mỗi vị Sakka sống ba mươi sáu triệu năm và sáu mươi lần một trăm nghìn năm. Theo thời gian, lòng tham của Mandhātā gia tăng; ông muốn giết Sakka và chiếm toàn bộ vương quốc. Do lòng tham đó, quyền năng của ông suy giảm và ông rơi xuống từ thiên giới vào vườn của mình. Người làm vườn báo tin ông về cho hoàng tộc, và họ dọn cho ông một chỗ nghỉ ngơi, ông nằm đó mà tắt thở. Khi được hỏi để lại lời nhắn gì cho thần dân, ông muốn họ biết rằng ngay cả ông, dù có bao nhiêu uy quyền hiển hách, cũng phải chết (Ja.ii.311ff.; DNa.ii.481f.; MNa.i.182f.; cp. Divy.210ff).
Mandhātā được đồng nhất với Bodhisatta (Ja.ii.314). Con trai của ông là Varamandhātā, cháu là Cara và chắt là Upacara (hoặc Apacara, Ja.iii.454; Dpv.iii.6). Mandhātā trị vì tại Rājagaha (Snpa.ii.413; DNa.i.132), và được nêu danh là một trong bốn người đạt được, ngay khi còn ở trong thân xác trần thế, vinh quang của chư thiên. Mil. 115, 291; MNa.ii.737f.; ba người kia là Guttila, Sādhīna và Nimi.
Ông được coi là bậc nhất trong số những người say mê dục lạc và là ví dụ điển hình về người mà dục vọng không bao giờ được thỏa mãn. AN.ii.17; ANa.ii.474; vd. Vibha.506. Thīg.486.
Khi Mandhātā lên cõi chư thiên, dân cư của cả bốn châu lục cùng đi theo. Tuy nhiên sau khi ông trở về trái đất, bánh xe Cakkaratana cắm chặt xuống đất và những người kia không thể trở về quê hương. Họ bèn cầu xin vị quan tể tướng (Parināyaka), người đang điều hành việc nước với đôi giày của Mandhātā đặt trên ngai vàng. Ông cấp cho họ đất đai ở Jambudīpa. Những người đến từ Pubbavideha đặt tên vùng đất của mình là Videharaṭṭha; những người từ Aparagoyāna gọi là Aparantajanapada, và những người từ Uttarakuru định cư ở nơi về sau được biết đến là Kururaṭṭha. DNa.ii.482; MNa.i.183f.