Aññāta Koṇḍañña Thera (Aññā Koṇḍañña Thera) draft
Aññāta Koṇḍañña Thera (Aññā Koṇḍañña Thera). He was the son of a very wealthy Brahmin family of Doṇavatthu near Kapilavatthu and was born before the Buddha. He came to be called by his family name Koṇḍañña. He was learned in the three Vedas, excelling in the science of physiognomy.
When the Buddha was born he was among the eight Brahmins (the others being Rāma, Dhaja, Lakkhaṇa, Mantī, Bhoja, Suyāma and Sudatta. In the Milinda (236), where the eight names are given, Koṇḍañña appears as Yañña) sent for to prognosticate, and though he was yet quite a novice he declared definitely that the babe would be a Buddha. Thereafter he lived awaiting the Bodhisatta’s renunciation. After this happened he left the world with four others, and the five later became known as the Pañcavaggiyā (Ja.i.65f.; ANa.i.78-84; Thaga.ii.1ff). When, after the Awakening, the Buddha visited them at Isipatana and preached the Dhammacakkappavattanasutta, Koṇḍañña and eighteen crores of Brahmas won the Fruit of the First Path. As he was the first among humans to realise the Dhamma the Buddha praised him saying “aññāsi vata bho Koṇḍañño, Koṇḍañña surely knows,” twice; hence he came to be known as Aññāta Koṇḍañña. (Vin.i.12; Uda.324, 371; Mvu.iii.333).
It is interesting to note that in the Burmese MSS. the name appears as Aññāsi Koṇḍañña. The Commentary explains Aññāta Koṇḍañña by “paṭivedha Koṇḍañña.” In the Thaga. he is called Aññā Koṇḍañña. Mrs. Rhys Davids suggests that Aññā was his personal name (Gotama the Man, p.102).
Five days later when the Anattalakkhaṇasutta was preached he became Arahant (Vin.i.13-14). He was the first to be ordained with the formula “ehi, bhikkhu” and the first to receive higher ordination. Later, at Jetavana, amidst a large concourse of monks, the Buddha declared him to be the best of those who first comprehended the Dhamma (ANa.i.84). He was also declared to be pre-eminent among disciples of long-standing (rattaññūnaṁ) (AN.i.23).
In the assembly of monks he sat behind the two chief disciples. Finding that his presence near the Buddha was becoming inconvenient to himself and others (for his reasons see ANa.i.84; SNa.i.216), he obtained the Buddha’s permission to go and live on the banks of the Mandākinī in the Chaddanta vana, where he stayed for twelve years, only returning at the end of that period to obtain the Buddha’s leave for his Parinibbāna. The elephants in the forest took it in turns to bring him his food and to look after him. Having bidden farewell to the Buddha, he returned to Chaddanta vana, where he passed away (SNa.i.218; ANa.i.84). We are told (SNa.i.219) that all Himavā wept at his death. The obsequies were elaborately performed by eight thousand elephants with the Deva Nāgadatta at their head. All the Devas from the lowest to the highest Brahma world took part in the ceremony, each Deva contributing a piece of sandalwood. Five hundred monks, led by Anuruddha, were present. The relics were taken to Veḷuvana and handed over to the Buddha, who with his own hand deposited them in a silver cetiya which appeared from the earth. Buddhaghosa states that the cetiya existed even in his time (SNa.i.219).
Several verses attributed to Koṇḍañña are given in the Theragāthā, admonishing fellow celibates to lead the higher life, because everything is impermanent, bound to suffering and void of soul (Thag.674-88).
On one occasion he preached to Sakka at the latter’s own request; Sakka expressed himself as greatly pleased because the sermon was worthy even of the Buddha.”
Vaṅgīsa once extolled his virtues in the presence of the Buddha (Thag.v.673; Thaga.ii.3).
In Padumuttara’s time Koṇḍañña had been a rich householder, and, seeing one of the monks given preference in seniority, he wished for a similar rank for himself in the future. Towards this end he did many acts of piety, one of them being to build a golden chamber over the Buddha’s relics. In Vipassī’s time he was a householder, Mahā Kāḷa, and gave to the Buddha the first-fruits of his field in nine stages of their produce (Thaga.ii.1; Dhpa.i.80).
According to the Apadāna (i.48f.; The Divy 430 mentions another previous birth of Koṇḍañña), he offered the first meal to Padumuttara after his Awakening.
Puṇṇa Mantānīputta was his nephew and was ordained by him. Thaga.i.37.
Mantānī was Aññāta Koṇḍañña’s sister.
Aññāta Koṇḍañña Thera (Aññā Koṇḍañña Thera). Ông là con trai của một gia đình Bà-la-môn giàu có tại Doṇavatthu gần Kapilavatthu, được sinh ra trước Đức Phật. Ông được gọi theo dòng họ là Koṇḍañña. Ông tinh thông ba bộ Kinh Vệ-đà, giỏi về khoa chiếm tinh.
Khi Đức Phật ra đời, ông là một trong tám vị Bà-la-môn (đó là Rāma, Dhaja, Lakkhaṇa, Mantī, Bhoja, Suyāma và Sudatta. Trong Milinda (236), nơi tám cái tên được liệt kê, Koṇḍañña xuất hiện với tên là Yañña) được triệu đến để xem đoán tướng, và dù còn rất trẻ, ông đã khẳng định dứt khoát rằng đứa trẻ sẽ thành Phật. Sau đó ông sống chờ đợi sự xuất gia của Bodhisatta. Khi điều đó xảy ra, ông xuất gia cùng bốn người khác, và năm người về sau được gọi là Pañcavaggiyā (Ja.i.65f.; ANa.i.78-84; Thaga.ii.1ff). Sau khi Giác Ngộ, Đức Phật đến gặp họ tại Isipatana và thuyết Dhammacakkappavattanasutta, Koṇḍañña và mười tám crore Phạm thiên chứng được quả Dự lưu. Vì là người đầu tiên trong nhân loại chứng ngộ Pháp, Đức Phật đã tán thán ông hai lần rằng "aññāsi vata bho Koṇḍañño, Koṇḍañña thật sự đã biết"; do đó ông được gọi là Aññāta Koṇḍañña. (Vin.i.12; Uda.324, 371; Mvu.iii.333).
Điều thú vị là trong các bản thảo Miến Điện, tên xuất hiện là Aññāsi Koṇḍañña. Lời chú giải giải thích Aññāta Koṇḍañña bằng "paṭivedha Koṇḍañña". Trong Thaga., ông được gọi là Aññā Koṇḍañña. Bà Rhys Davids đề nghị rằng Aññā là tên riêng của ông (Gotama the Man, trang 102).
Năm ngày sau khi Anattalakkhaṇasutta được thuyết, ông chứng đắc Arahant (Vin.i.13-14). Ông là người đầu tiên được thụ giới với công thức "ehi, bhikkhu" và là người đầu tiên nhận đại giới. Sau này, tại Jetavana, giữa đại chúng tỳ-kheo, Đức Phật tuyên bố ông là bậc đệ nhất trong số những ai chứng ngộ Pháp đầu tiên (ANa.i.84). Ông cũng được tuyên bố là bậc ưu việt trong số những đệ tử có thâm niên (rattaññūnaṁ) (AN.i.23).
Trong đại chúng tỳ-kheo, ông ngồi sau hai đại đệ tử. Nhận thấy sự hiện diện của mình gần Đức Phật gây bất tiện cho bản thân và người khác (lý do xem ANa.i.84; SNa.i.216), ông xin phép Đức Phật đi sống trên bờ sông Mandākinī trong khu rừng Chaddanta, nơi ông ở lại mười hai năm, chỉ trở về cuối thời đó để xin phép Đức Phật nhập Niết-bàn. Các con voi trong rừng luân phiên mang thức ăn và chăm sóc ông. Sau khi cáo biệt Đức Phật, ông trở về rừng Chaddanta và viên tịch tại đó (SNa.i.218; ANa.i.84). Chuyện kể rằng (SNa.i.219) toàn bộ Himavā đã khóc khi ông mất. Tang lễ được tám nghìn con voi cử hành trọng thể với Deva Nāgadatta dẫn đầu. Tất cả chư thiên từ cõi thấp nhất đến cõi Phạm thiên cao nhất đều tham dự, mỗi vị Deva cúng một miếng gỗ đàn hương. Năm trăm tỳ-kheo do Anuruddha dẫn đầu có mặt. Xá lợi được (đưa về) Veḷuvana và giao cho Đức Phật, người đích thân đặt vào một cetiya bạc hiện ra từ mặt đất. Buddhaghosa chép rằng cetiya vẫn còn tồn tại vào thời của ông (SNa.i.219).
Những kệ được gán cho Koṇḍañña trong Therágāthā khuyến khích các bạn phạm hạnh tu tập đời sống cao thượng, vì mọi thứ đều vô thường, gắn liền với khổ đau và không có linh hồn (Thag.674-88).
Một lần, ông thuyết pháp cho Sakka theo yêu cầu của vị đó; Sakka bày tỏ hết sức hoan hỷ vì bài pháp xứng đáng với cả Đức Phật."
Vaṅgīsa đã từng ca ngợi công đức của ông trước mặt Đức Phật (Thag.v.673; Thaga.ii.3).
Thời Padumuttara, Koṇḍañña đã là một gia chủ giàu có; nhìn thấy một vị tỳ-kheo được tôn vị hàng đầu về thâm niên, ông ảo vọng sẽ có được vị thế tương tự trong tương lai. Hướng tới điều đó, ông làm nhiều việc thiện, trong đó có xây dựng một tháp phòng vàng trên xá lợi của Đức Phật. Thời Vipassī, ông là một gia chủ, Mahā Kāḷa, và đã dâng cho Đức Phật hoa lợi đầu mùa của ruộng mình qua chín giai đoạn thu hoạch (Thaga.ii.1; Dhpa.i.80).
Theo Apadāna (i.48f.; Divy 430 đề cập một tiền kiếp khác của Koṇḍañña), ông đã dâng bữa ăn đầu tiên cho Padumuttara sau khi Ngài Giác Ngộ.
Puṇṇa Mantānīputta là cháu trai của ông và được ông thụ giới. Thaga.i.37.
Mantānī là chị gái của Aññāta Koṇḍañña.