Sañjaya draft
01. Sañjaya 01 draft
Sañjaya 01. A gardener (uyyānapāla) of Brahmadatta, king of Benares. See the Vātamigajātaka. He is identified with the slave girl who tried to tempt Cūḷa Piṇḍapātikatissa Thera. Ja.i.156f.
Sañjaya 01. Một người làm vườn (uyyānapāla) của Brahmadatta, vua của Benares. Xem Vātamigajātaka. Ông được đồng nhất với cô nô tỳ đã cố gắng cám dỗ Cūḷa Piṇḍapātikatissa Thera. Ja.i.156f.
02. Sañjaya 02 draft
Sañjaya 02. A rājā of Tagara. He renounced the world with ninety crores of others and became an ascetic. Dhammadassī Buddha preached to them and they all attained Arahant-ship. Bv.xvi.3; Bva.183.
Sañjaya 02. Một rājā của Tagara. Ông đã từ bỏ thế gian cùng với chín mươi crore người khác và trở thành một tu sĩ khổ hạnh. Dhammadassī Buddha đã thuyết pháp cho họ và tất cả họ đều đạt quả vị Arahant. Bv.xvi.3; Bv-a.183.
03. Sañjaya 03 draft
Sañjaya 03. Father of Vessantara. He was the son of Sivi, king of Jetuttara, and after his father’s death succeeded him as king. His wife was Phusatī. He is identified with Suddhodana of the present age. See the Vessantarajātaka (Ja 547) for details. He is mentioned in a list of kings at Dpv.iii.42.
Sañjaya 03. Cha của Vessantara. Ông là con trai của Sivi, vua của Jetuttara, và sau cái chết của cha mình, ông đã kế vị làm vua. Vợ ông là Phusatī. Ông được đồng nhất với Suddhodana trong thời đại hiện tại. Xem Vessantarajātaka (Ja 547) để biết chi tiết. Ông được đề cập trong một danh sách các vị vua tại Dpv.iii.42.
04. Sañjaya 04 draft
Sañjaya 04. Sañjaya Thera. He was the son of a wealthy Brahmin of Sāvatthī, and, following the example of Brahmāyu, Pokkharasāti, and other well-known Brahmins, found faith in the Buddha and became a Sotāpanna. He entered the Saṅgha and attained Arahant-ship in the tonsure hall.
In the time of Vipassī Buddha he spent all his wealth in good deeds and was left poor. Even then he continued to wait on the Buddha and his monks and led a good life. Eight kappas ago he was a king named Sucintita (Thag.vs.48; Thaga.i.119f).
He is evidently to be identified with Veyyāvacaka Thera of the Apadāna. Ap.i.138.
Sañjaya 04. Sañjaya Thera. Ông là con trai của một Bà-la-môn giàu có ở Sāvatthī, và, noi gương Brahmāyu, Pokkharasāti, và những Bà-la-môn nổi tiếng khác, đã tìm thấy niềm tin vào Đức Phật và trở thành một Sotāpanna. Ông gia nhập Tăng đoàn và đạt quả vị Arahant trong phòng cạo đầu.
Vào thời của Vipassī Buddha, ông đã tiêu hết tài sản của mình cho những việc làm thiện lành và trở nên nghèo khó. Ngay cả khi đó, ông vẫn tiếp tục phục vụ Đức Phật cùng các tỳ-kheo của Ngài và có một cuộc sống tốt đẹp. Tám kappa trước, ông là một vị vua tên là Sucintita (Thag.vs.48; Thaga.i.119f).
Ông hiển nhiên được đồng nhất với Veyyāvacaka Thera của Apadāna. Ap.i.138.
05. Sañjaya 05 draft
Sañjaya 05. Sañjaya Akāsagotta. In the Kaṇṇakatthalasutta Viḍūḍabha tells the Buddha that it was Sañjaya who started the story round the palace to the effect that, according to the Buddha, no recluse or Brahmin can ever attain to absolute knowledge and insight. Sañjaya is sent for by Pasenadi, but, on being questioned, says that Viḍūḍabha was responsible for the statement. MN.ii.127, 132.
Sañjaya 05. Sañjaya Akāsagotta. Trong Kaṇṇakatthalasutta, Viḍūḍabha nói với Đức Phật rằng chính Sañjaya là người đã bắt đầu câu chuyện quanh cung điện với nội dung rằng, theo Đức Phật, không có sa-môn hay Bà-la-môn nào có thể đạt đến sự hiểu biết và tuệ giác tuyệt đối. Sañjaya được Pasenadi cho gọi đến, nhưng, khi bị chất vấn, lại nói rằng Viḍūḍabha phải chịu trách nhiệm về phát biểu đó. MN.ii.127, 132.
06. Sañjaya 06 draft
Sañjaya 06. Son of the Brahmin Vidhura and younger brother of Bhadrakāra. See the Sambhavajātaka. He is identified with Sāriputta. Ja.v.67.
Sañjaya 06. Con trai của Bà-la-môn Vidhura và em trai của Bhadrakāra. Xem Sambhavajātaka. Ông được đồng nhất với Sāriputta. Ja.v.67.
07. Sañjaya 07 draft
Sañjaya 07. Sañjaya Belaṭṭhiputta. One of the six famous heretical teachers of the Buddha’s day. He was a great skeptic, his teaching being the evasion of problems and the suspension of judgment. His doctrines seem to have been identical with those of the Amarāvikkhepikas (eel-wrigglers) who, when asked a question, would equivocate and wriggle like an eel. Sañjaya’s teachings are given at DN.i.58; cf. the “eel-wrigglers” at DN.i.27.
It is probable that Sañjaya suspended his judgments only with regard to those questions the answers to which must always remain a matter of speculation. It may be that he wished to impress on his followers the fact that the final answer to these questions lay beyond the domain of speculation, and that he wished to divert their attention from fruitless enquiry and direct it towards the preservation of mental equanimity.
Buddhaghosa gives us no particulars about Sañjaya, beyond the fact that he was the son of Belaṭṭha (DNa.i.144). Sanskrit texts call him Sañjayī Vairatiputra (e.g., Mvu.iii.59f) and Sañjayi Vairattīputra (e.g., Divy.143,145).
He is evidently identical with Sañjaya the Paribbājaka who was the original teacher of Sāriputta and Moggallāna (Vin.i.39). It is said that when these two disciples left Sañjaya to become pupils of the Buddha, they were joined by two hundred and fifty others. Sañjaya then fainted, and hot blood issued from his mouth. Vin.i.42; according to Dhpa.i.78, Sāriputta and Moggallāna tried to persuade Sañjaya to accept the Buddha’s doctrine, but they failed, and only one half of his disciples joined them. The Paribbājaka Suppiya was also a follower of Sañjaya (DNa.i.35).
Barua thinks (Op. cit., 326) that the Aviruddhakas mentioned in the Aṅguttara (AN.iii.276) were also followers of Sañjaya – that they were called Amarāvikkhepakā for their philosophical doctrines, and Aviruddhakā for their moral conduct.
Sañjaya 07. Sañjaya Belaṭṭhiputta. Một trong sáu vị đạo sư ngoại đạo nổi tiếng vào thời Đức Phật. Ông là một người theo chủ nghĩa hoài nghi lớn, giáo lý của ông là sự lẩn tránh các vấn đề và đình chỉ sự phán xét. Những giáo thuyết của ông dường như đồng nhất với những giáo thuyết của nhóm Amarāvikkhepika (những người trườn uốn như lươn), những người, khi được hỏi một câu hỏi, sẽ nói nước đôi và trườn uốn như một con lươn. Những lời dạy của Sañjaya được đưa ra tại DN.i.58; so sánh "những người trườn uốn như lươn" tại DN.i.27.
Có lẽ Sañjaya chỉ đình chỉ những phán xét của mình đối với những câu hỏi mà câu trả lời cho chúng phải luôn là một vấn đề của sự suy đoán. Có thể là ông muốn gây ấn tượng với những người theo mình về sự thật rằng câu trả lời cuối cùng cho những câu hỏi này nằm ngoài phạm vi của sự suy đoán, và rằng ông muốn chuyển sự chú ý của họ khỏi sự tìm hiểu vô ích và hướng nó đến việc gìn giữ sự bình thản của tâm trí.
Buddhaghosa không cung cấp cho chúng ta chi tiết nào về Sañjaya, ngoài sự thật rằng ông là con trai của Belaṭṭha (DNa.i.144). Các văn bản tiếng Phạn gọi ông là Sañjayī Vairatiputra (ví dụ, Mvu.iii.59f) và Sañjayi Vairattīputra (ví dụ, Divy.143,145).
Ông hiển nhiên đồng nhất với Sañjaya, vị Paribbājaka (du sĩ ngoại đạo) từng là vị thầy ban đầu của Sāriputta và Moggallāna (Vin.i.39). Người ta nói rằng khi hai đệ tử này rời bỏ Sañjaya để trở thành học trò của Đức Phật, họ đã được hai trăm năm mươi người khác tham gia cùng. Sañjaya sau đó đã ngất xỉu, và máu nóng trào ra từ miệng ông. Vin.i.42; theo Dhpa.i.78, Sāriputta và Moggallāna đã cố gắng thuyết phục Sañjaya chấp nhận giáo lý của Đức Phật, nhưng họ thất bại, và chỉ một nửa số đệ tử của ông đã gia nhập cùng họ. Vị Paribbājaka Suppiya cũng là một môn đồ của Sañjaya (DNa.i.35).
Barua nghĩ rằng (Op. cit., 326) những người thuộc Aviruddhaka được đề cập trong Aṅguttara (AN.iii.276) cũng là những môn đồ của Sañjaya – rằng họ được gọi là Amarāvikkhepakā vì những giáo thuyết triết học của họ, và Aviruddhakā vì hạnh kiểm đạo đức của họ.